Thú vui nhiếp ảnh thơ văn
Sẻ chia cùng bạn tri âm khắp miền.

đào anh dũng




19 tháng 12, 2013

14. Không chỉ là giấc mơ (Hồi ký của một cựu học sinh trường dòng)



“Chín ơi, bây giờ đi Ban mê thuột mình còn phải đi vòng từ Đà lạt không vậy chú?”,  tôi hỏi đứa em còn ở Việt Nam. Chú cười, giọng có chút khôi hài:
“Ông anh ơi, sao ông nhà quê quá vậy!? Bây giờ yên rồi mình đi từ Tây Ninh băng qua Chơn thành rồi bắt quốc lộ 14 đi thẳng đến đó. À, bây giờ người ta gọi là Buôn Ma Thuột.”
“Ban hay buôn, ma hay mê cũng được. Đi bao lâu tới?”
“Anh hỏi chi vậy? Đi thăm ‘người xưa’ hả? Khoảng 350 cây.”
“Ờ, thì người xưa! Nhưng người xưa đây là hai ông thầy cũ. Đi và về hai ngày đủ không?”
Tôi hỏi chú em như vậy vì chuyến này tôi đưa vợ con về Việt Nam có hai tuần lễ, trừ đi mấy ngày ngồi máy bay, thời gian thăm quê nhà không có bao nhiêu. Vì quá bận công việc làm nên tôi không thể lấy phép lâu hơn được.
“Dư sức. Nếu ba bốn giờ sáng mình khởi hành thì sẽ đến Buôn Ma Thuột khoảng 12 giờ trưa. Ngủ đêm ở đó rồi sáng mai trở về. Đường đi cũng khá tốt, không mệt lắm đâu. Anh chị và mấy cháu sẽ có dịp xem phong cảnh vùng Tây nguyên ...”
Tôi nhờ chú em mướn xe để sáng sớm hôm sau chúng tôi khởi hành ngay. Vợ con tôi nghe nói hai ngày ngồi xe, lắc đầu, xin được ở nhà chơi cho khỏe.
Đúng như ước tính của chú em, chúng tôi đến Ban Mê Thuột khi trời vừa xế ngọ. Ăn trưa xong, tôi nhờ tài xế lái đến số 133B đường Phan chu Trinh.

Đã gần 40 năm tôi chưa gặp lại thầy Salomon lần nào nhưng tôi nhìn ra thầy ngay. Gương mặt thầy có chút thay đổi, tóc thầy chỉ còn ít cọng lưa thưa, bạc trắng, tướng đi của thầy lụm cụm. Tôi dặn chú em cứ đi chơi đâu đó, khoảng hai giờ sau đến đón tôi. Tôi đến bên, khoanh tay cúi đầu chào thầy:
“Thưa frère, frère khỏe không?”
Thầy nhìn tôi, ánh mắt của thầy khi ấy giống như một ngọn đèn bựt sáng vào gương mặt của tôi trong giây lát rồi vụt tắt.
“Thưa ông, ông là ai mà gọi tôi bằng frère?”
“Dạ, con là Dũng đây frère. Dũng học Mossard từ năm 60 đến 66 ...”
“Dũng nào? Nguyễn Tiến Dũng học frère lớp 10è hay Dũng ... Ơ ... frère có nhiều học trò tên Dũng lắm. Xin lỗi con, lâu quá rồi frère không làm sao nhớ ...”
“Dạ, con là Dũng quê ở Tây Ninh, Dũng ‘le choisi’ đó frère! Năm ấy con ở nội trú, học lớp 7è Spéciale mà ngủ ở petit dortoir đó ...”
“A ... Chúa ơi! Frère nhớ ra rồi.  Dũng ... con ... con làm gì ở đây?”
“Dạ, con tìm thăm frère.”
“Ôi, Dũng ơi, frère mừng ... mừng quá! Con ngồi xuống đây. Bây giờ con ở đâu? Ai ... ai cho con biết frère ở đây?”
Thầy vừa nói vừa kéo tôi ngồi xuống chiếc băng gỗ dưới một bóng cây gần đó rồi thầy trò chúng tôi thi nhau hỏi thăm và kể cho nhau nghe những kỷ niệm năm xưa. Khi tôi nói đùa với thầy rằng tôi nghe nói bây giờ thầy là “chuyên gia” nuôi heo, nuôi thỏ và cũng là một nhà làm vườn chuyên nghiệp, thầy thao thao bất tuyệt kể chuyện cây cối thầy trồng, chuyện thú vật thầy nuôi ... cho đến lúc chú em của tôi đến đón, tôi đành phải nói lời chia tay cùng thầy. Khi bắt tay từ giã thầy tôi kín đáo nhét vào tay thầy vài tờ đô-la, chút quà mọn xin thầy chuyển cho nhà dòng. Thầy nắm tay tôi, siết chặt như không muốn rời. Tôi xin phép được đọc cùng thầy những câu kinh ngày xưa thầy đã dạy cho tôi:

Notre Père, qui êtes aux cieux
Que votre nom soit sanctifié.
Que votre règne arrive ...”
(Những câu đầu của kinh Lạy Cha)

Sau khi thầy trò chúng tôi đọc xong bài kinh chót, kinh Gloire au Père (Kinh Sáng Danh), thầy nhìn thật sâu vào mắt tôi và hỏi:
“Con ... sau bao nhiêu năm con vẫn còn nhớ những câu kinh này ... Con ... hay là ... hay là con đã trở lại với Chúa?”
Tôi nhìn đôi mắt nhân từ của thầy, nhè nhẹ gật đầu. Ánh mắt của thầy bỗng lóe lên như vì sao Bắc Đẩu, thầy ôm lấy tôi và thầy nói, giọng run run:
Oui, je sais, mon enfant. Tu es vraiment le choisi!
Tôi bàng hoàng, cảm động. Đây chính là câu thầy nói với tôi năm xưa, năm tôi bắt được chiếc bánh vua, năm tôi được một ngày làm vua Mossard. Tôi ôm thầy, đầu cúi trên vai thầy cho đến khi cảm thấy một cơn gió lạnh thổi luồn dưới chân, cuốn theo vài chiếc lá khô. Tôi chợt thấy trong đám lá ấy có mấy tờ đô-la tôi vừa trao cho thầy. Tôi vội buông vai thầy, hai chân vụt chạy, hai tay cố chụp lại mấy tờ đô-la. Tôi la lên:
Frère! Frère! Đô-la! Đô-la! Bay! Bay rồi!”


Bỗng ai đó lắc mạnh vai tôi. Tôi giật mình ngồi dậy, mới hay tôi đang ở trong phòng ngủ nhà mình, chăn mền bị tôi đạp tung, chân tôi lòi ra ngoài, lạnh buốt với cái rét Minnesota. Nhà tôi ôm vai tôi hỏi:
“Anh thấy chi mà la to rứa?”
Tôi nhớ lại giấc mơ, khe khẽ nói:
“Anh mơ thấy anh đi thăm frère Salomon ở Ban Mê Thuột. Hồi hôm trước khi ngủ anh lên internet xem trang Lasan mới hay frère đã qua đời. Hè năm rồi đáng lý ra mình về Việt Nam rồi đi thăm frère nhưng anh bận công việc quá. Bây giờ thì trễ rồi, anh thật ân hận ...”
“Em nghĩ anh đọc tin buồn rồi để trong tâm trí nên mới nằm chộ thấy frère. Mà răng em nghe anh la lên, hình như là ‘đô-la, đô-la, bay, bay’ rứa?”
“Anh thấy mấy tờ đô-la anh vừa biếu frère sao tự nhiên bay cuốn theo một cơn gió rồi anh chạy theo cố chụp chúng lại ... A ... em ơi, anh nghiệm ra rồi! Phải chăng ... phải chăng frère về nhắc khéo anh sao cứ mãi mê đeo đuổi công việc, cứ chạy theo đồng tiền?”
Nhà tôi nắm lấy tay tôi một hồi lâu o mới ngọt ngào nói:
“Anh, em ... em muốn nói với anh việc ni lâu rồi nhưng mô dám. Anh bay đi công tác xa hoài, miệt mài làm việc, bỏ mạ con em ở nhà buồn chi lạ. Có nhiều ngày chúa nhật mạ con em đi lễ mà không có anh. Thôi, việc ni nặng nhọc quá, anh tìm việc khác, anh hỉ. Để anh có thể ở nhà với mạ con em nhiều hơn ... Chừ hai đứa mình đọc cho frère vài kinh, rồi mình ngủ lại hỉ ...”
Tôi siết tay nhà tôi, lòng tràn đầy hạnh phúc. Tôi thầm cám ơn thầy Salomon, vị ân sư của tôi, rồi tôi tự nhiên bắt câu kinh, “Notre Père, qui êtes aux cieux ...” nhưng câu kinh ấy bị gián đoạn bởi cái siết tay ra dấu của nhà tôi. Tôi giật mình, bắt lại câu kinh bằng tiếng Việt, “Lạy Cha chúng con ở trên trời ...”



Apple Valley, Minnesota
Cận Xuân Quí Tỵ, 2013



đàoanhdũng
www.lasanmossard.org


Hân hạnh đón nhận những lời bình luận dễ thương của bạn.

15 tháng 12, 2013

13. “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo” (Hồi ký của một cựu học sinh trường dòng)



Sau hơn 23 năm sống ở xứ người, tôi đưa vợ con tôi về Việt Nam thăm nhà, cho hai thằng con của chúng tôi biết quê cha đất tổ, bà con thân thuộc.

Trên chuyến bay Cathay Pacific từ Hồng kông về Sài gòn mỗi hành khách chúng tôi được tặng một giấy chứng nhận đã đáp một trong những chuyến bay cuối cùng rời phi trường Kai Tak. Kể từ ngày mai phi trường này sẽ vĩnh viễn đóng cửa, thay thế bởi một phi trường mới, tối tân hơn. Hôm ấy là ngày 5 tháng 7, 1998. Tôi cám ơn cô tiếp viên và nói tiếp:

“Hôm nay cũng là một ngày đặc biệt của gia đình chúng tôi.”

Cô tiếp viên cười thật niềm nở:

“Để tôi đoán xem. A ... hôm nay là ngày đầu tiên gia đình ông bà trở về Việt Nam?”

Tôi gật đầu, trả lời:

“Đúng, cô nói đúng nhưng chỉ đúng có phân nửa mà thôi.”

Rồi tôi vò đầu Lực, thằng con trai thứ hai của tôi đang ngồi ghế kế bên.

“Hôm nay cũng là ngày sinh nhật của Lực, con của chúng tôi. Cathay Pacific có gì đặc biệt cho nó không?”

Cô tiếp viên bắt tay chúc mừng Lực, rồi cô nói cô sẽ hỏi viên phi công trưởng chuyến bay.

Khi máy bay chuẩn bị đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhứt, cô tiếp viên đến hàng ghế của chúng tôi và nói nếu tôi cho phép, Lực có thể ngồi trong cockpit (phòng lái) cùng với phi hành đoàn để xem phi cơ hạ cánh. Đó là món quà sinh nhật của Cathay Pacific. Nhìn gương mặt rạng rở của con, tôi quên hết những hiểm nguy có thể xảy ra trong lúc hạ cánh và gật đầu chấp thuận.

Hôm ấy Lực tròn 16 tuổi, còn tôi năm 16 tuổi tôi rời khỏi mái trường Mossard. Nhìn phong cảnh Việt nam từ cửa sổ phi cơ tôi bỗng nhớ đến những buổi chiều Mossard năm xưa. Hầu hết các buổi chiều, sau những trận bóng tròn bạn bè chúng tôi thường hay ngồi nghỉ mệt và tán dóc ngay tại sân, chờ đến giờ chuông reo đi tắm. Thỉnh thoảng trên bầu trời Mossard có một chiếc máy bay hàng không dân sự hai động cơ phản lực sau đuôi, hình như là chiếc Caravelle, bay ngang, từ từ hạ cao độ trực chỉ hướng Sài gòn. Và, trăm lần như một tôi ước ao ngày nào mình cũng được ngồi trên chiếc phi cơ để bay đến những phương trời xa lạ.



 Nghĩ đến đó, tôi vội nhìn qua cửa sổ, biết đâu mình đang bay ngang qua Mossard, chắc cũng không khó nhận ra vì Mossard có ba ngôi nhà lầu, một sân bóng tròn, ba sân bóng rổ, bốn sân bóng chuyền và một piscine, không kể Đệ Tử Viện. Nhưng đất trời mênh mông “biết mô mà tìm!”

Tôi nhắm mắt lại. Hình ảnh ngày cuối cùng tôi rời Việt nam bỗng hiện ra. Khi chiếc Chinook chở đám người di tản chúng tôi vụt lên khỏi sân thượng tòa Đại sứ Hoa kỳ, tôi cố gắng ghi lại những hình ảnh cuối cùng của Việt Nam xuyên qua bóng đen của người lính Thủy quân Lục chiến Mỹ đang ghìm khẩu đại liên, mũi chúi xuống cửa sổ máy bay trực thăng. Đó là hình ảnh hàng ngàn người trong và ngoài khuôn viên tòa Đại sứ. Kế đến là nóc nhà thờ Đức Bà. Khi ấy, trời còn tối, tôi cố gắng nhưng không thấy được mái trường Taberd. Đồng hồ trên tay tôi chỉ 3 giờ 45. Hôm ấy là ngày 30 tháng 4, 1975.



Phi cơ chạm đất. Tôi giật mình, vẫn không ngờ mình đã trở về quê hương.




Rời phi trường Tân Sơn Nhứt chúng tôi về Tây Ninh ngay hôm ấy. Viếng mồ mả Ông Bà, thăm bà con thân thuộc xong, tôi muốn đưa hai con của tôi đi thăm ngôi trường Tiểu học Tây Ninh năm xưa, nơi tôi lần đầu tiên cắp sách đến trường. Nhưng điều này không thực hiện được. Nơi ấy bây giờ là vùng cấm địa, trực thuộc văn phòng tỉnh ủy.






Mấy hôm sau đi Sài gòn, tôi bao taxi chạy khắp nẻo đường thành phố, chỉ cho con tôi biết những nơi tôi đã có những dấu vết kỷ niệm.

Ghé trường Taberd, ngôi trường xưa còn đó nhưng đã trở thành một trường sư phạm, không còn bóng dáng những chiếc áo dòng đen. Tôi biểu cậu lái taxi đưa chúng tôi lên Thủ đức. Đến Mossard tôi đứng ngoài nhìn vào trường, lòng buồn vô hạn. Trường cũ của tôi bây giờ mang một cái tên dài thòng, lạ hoắc. Bảng tên Mossard không còn trên trụ cổng nữa.
(Ghi chú: Bản tên trường bị cạy bỏ sau 1975. Anh Nguyễn Thanh Dũng (RIP), một cựu học sinh Mossard lượm cất giữ. Ảnh do hai cựu học sinh Nguyễn Quốc Dũng và Hoàng Anh Tuấn cung cấp cho www.lasanmossard.org)
Hôm sau, tôi có đi gặp Đáng, một bạn cũ Mossard, để hỏi thăm các frères giờ ở đâu. Đáng cho tôi biết người ta chừa cho các thầy một cái chái để ở, ngày xưa là nơi gởi xe của học sinh. Đáng cùng cha con chúng tôi đón taxi trở lại Taberd. Tôi gặp lại vị thầy cũ là frère François. Mừng mừng tủi tủi, hỏi thăm nhau tôi mới biết sau 1975 thầy bị “đại nạn” năm năm cùng với vài thầy Mossard khác, các thầy Julien và Vincent đã về với Chúa, riêng thầy Jules và thầy Salomon (khi ấy tuổi gần 90) đang sống ẩn dật tại Ban Mê Thuột. Thầy François cẩn thận ghi cho tôi địa chỉ và tôi hẹn với lòng mình lần tới về Việt Nam tôi sẽ đi Ban Mê Thuột thăm quí thầy.
Với Papa François, Tết Nhâm Thìn 2012
tại nhà hưu dưỡng Mai Thôn
Khi chia tay cùng vị thầy cũ, chạnh lòng tôi nhớ đến bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan ngày xưa tôi học với thầy Mừng ở Mossard:

...

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương,

...

Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.



đàoanhdũng
www.lasanmossard.org


(Xem tiếp)
Hân hạnh đón nhận những lời bình luận dễ thương của bạn.