Thú vui nhiếp ảnh thơ văn
Sẻ chia cùng bạn tri âm khắp miền.

đào anh dũng




25 tháng 11, 2013

Ngày Nhà Giáo

Tạp chí Văn Hữu, số 23, mùa Đông 2013
đàoanhdũng



Sáng sớm mở Facebook, thấy chú em đăng hình ba chậu bông lan thật đẹp, tôi thầm nghĩ, chắc ai đặt tặng sinh nhựt, cưới hỏi gì đây. Tôi cũng không khỏi tính rợ, một cành lan giá khoảng bốn năm ngàn đồng, ba chậu ít nhứt cũng hai chục cành, vị chi một trăm ngàn, tròm trèm năm đô-la, chắc đủ tiền xăng, tiền chợ. 

Hơn một năm nay em tôi đầu tư trồng lan ở vườn sau nhà, vừa vui thú điền viên vừa kiếm thêm chút đỉnh bù đắp chi dụng trong gia đình.
Thấy mới có bảy giờ sáng là sáu giờ chiều bên nhà, tôi gõ vào máy:
“Hôm nay trúng mối hả?”
Một lát sau, chú em trả lời:
“Đâu có, làm ba chậu cho ba đứa cháu nội tặng thầy cô. Hôm nay 20 tháng 11 là ngày Nhà Giáo Việt Nam.”
Tôi vừa lầm bầm, vậy là đi đong năm đô-la, vừa gõ:
“Vậy có ai đặt bông hoa tặng thầy cô không?”
“Đâu có, thời này thiên hạ chuộng phong bì hơn.”
Tôi bèn đùa một phát:
“Chết cha! Nếu vậy thì cháu nội sẽ bị đì, chịu đời sao thấu?
Không ngờ chú em trả lời:
“Năm nay chơi trội, vừa tặng hoa, vừa bao thơ.”
Tôi cảm thấy hụt hẫng, ngồi lặng im, thầm nghĩ ngày xưa tôi đi học, không có Ngày Nhà Giáo, mỗi năm một lần vào buổi học cuối năm học trò hẹn nhau mang bánh kẹo, dưa hấu, nước ngọt vào lớp tết thầy, rồi thầy trò cùng nhau vui Xuân, thật nồng nàn, ấm cúng. Còn ngày nay ...
Bỗng có hàng chữ nổi lên trên màn ảnh vi tính:
“Nói chơi đó nhen!”
Tôi gõ vào máy:
“Hy vọng như vậy.”



đàoanhdũng
20/11/2013

Hân hạnh đón nhận những lời bình luận dễ thương của bạn.

20 tháng 11, 2013

Một buổi sáng cuối tuần



S
áng thứ bảy, ông thức dậy như cái máy, đúng boong sáu giờ như ngày thường, không “nướng” đến “chín” như bà. Ông kéo mền nhè nhẹ phủ đến ngực cho bà. Nhìn bà đang say trong giấc ngủ sao thấy thương quá, ông muốn hôn nhẹ lên má bà, nhưng ngại làm bà thức giấc. Ông chần chừ, rồi hôn phớt lên má, hít một hơi dài khoan khoái, xong rón rén bước sang phòng tắm. Ông không muốn gây tiếng động nào có thể đánh thức bà. Trong tuần bà đi làm việc sở, về nhà còn quần quật lo cho ông và hai thằng con. Bà cần nghỉ ngơi vào cuối tuần. Ông rửa mặt, đánh răng, chải lại mái tóc đã thưa, đã nhuốm bạc, mỉm cười, nghĩ thầm: “Cũng lạ, tánh tình hai đứa như đối chọi. Hạnh phúc không? Nhiều. Sóng gió? Lắm khi. Thế mà đã hơn 20 năm chung sống!”

Ông đóng nhẹ cửa phòng ngủ, bước ra phòng ăn. Ông lấy trong túi xách đi làm chiếc máy vi tính, mang sang bàn ăn, bật nút, mở máy. Đi qua căn bếp, ông lấy chiếc ấm, mở lò, nấu nước pha trà. Liếc mắt sang máy vi tính, chưa thấy tấm ảnh gia đình hiện lên, ông nhủ thầm: “Phải bỏ bớt rác!”  Ông kéo tấm sáo của cánh cửa mở ra sân sau. Ánh nắng ban mai non nớt tràn vào nhưng không phá vỡ nổi không gian tĩnh mịch của buổi sáng sớm. Một áng mây xám đang lãng đãng hăm dọa ngày đẹp cuối tuần đầu Hạ này. Cây liễu nhà hàng xóm bên kia hàng rào đứng bất động như mái tóc của một ả bụi đời đang say ma túy. Con đường chạy vòng xóm nhà ông im lìm, vắng bóng xe cộ. Thời gian như ngừng trôi. Không gian yên tĩnh. Tuyệt! Đúng là một buổi sáng lý tưởng cho một người mới tập tành viết văn.

    Ông ngồi xuống ghế bàn ăn, đánh mã số vào máy, lên mạng ngay. Trang nhà CNN hiện lên. Tin tức về tên đầu sỏ al Qaeda tại Iraq vừa bị giết vẫn còn nóng hổi. Thêm một vụ đặt bom ngay tại Baghdad, 10 người chết, bảy bị thương. Giá dầu xăng tụt xuống, rồi lại tăng lên.  Theo mức độ giết chóc? Ông mở các trang Việt ngữ . Vụ “Bờ Mu” còn ầm ĩ.  Đâu là sự thật? Đại Nhạc hội “Cám ơn anh, người thương binh VNCH” tại nam Cali.  Hơn 30 năm, vết thương còn chảy máu. Giải bóng tròn thế giới. Ôi, những ngày đá banh chân không trên sân cỏ sau trường. Giờ vẫn còn mê!

Ông đóng mạng, nói thầm: “Đủ rồi! Bây giờ lo viết tiếp … nhưng truyện gì đây?” Ông tìm trong ổ C các truyện ông viết dang dở … Truyện tình của bà Ngọc với ông chồng Mỹ đen, truyện thầy Salomon Minh, truyện cậu Thom và con hươu cao cổ … Bỗng chiếc ấm nước ré lên. Ông bước vội sang bếp, tắt lửa. Trà gì đây? Lipton hay là móc câu? Thứ bảy, có nhiều thời giờ, móc câu. Ông lấy một nhúm trà bỏ vào bình sứ và chế nước sôi. Ông chọn cái ly cối bằng sứ có in hình Winnie the Pooh (1) quen thuộc thằng con tặng ông ngày lễ Từ Phụ năm kia. Ông mỉm cười,  nhớ nó trả lời khi ông hỏi tại sao: “Má gọi ba là gấu mà!”  Hừ, cái thằng tiếu lâm, nhớ dai!

Ông mang bình trà và cái ly cối bằng sứ sang bàn ăn, ngồi xuống ghế, nhìn vào màn ảnh. Ông bỗng cảm thấy đầu óc trống rỗng. Mình đang ở đâu vậy cà? Đi ngược lại. Ừ, con gấu, trà móc câu, viết truyện gì, tin tức trên mạng. Ông ngừng nơi đó khi ông tự hỏi khi nãy sao mình không xem tin tức địa phương.  Phải chăng cuộc sống ở tiểu bang miền cực Bắc nầy quá êm đềm? Không đâu.  Vật giá gia tăng - dầu xăng đó! Tội ác trong thành phố -  mới hôm kia đây, một cậu sinh viên bị bắn khi đang chạy xe đạp, không biết lý do. Riêng ông, ông có quá nhiều vấn đề trong sở làm -  kỹ thuật mới, luật lệ thay đổi, những va chạm giữa người với người.  Còn nhiều, nhiều việc ông phải đối phó hàng ngày lắm. Nhưng chúng không làm ông bận tâm bằng chiến tranh Iraq, bằng những việc xảy ra trong cộng đồng Việt Nam của ông, xa bên kia trái đất hay tận Texas, Cali. Cuống rún chưa lìa, nỗi đau 30 năm chưa nguôi. Iraq và Việt Nam không khác nhau nhiều đâu. Không có đen và trắng. Không rõ rệt, mà chỉ là màu xám, màu của tranh tối, tranh sáng lẫn lộn giữa tuyên truyền và sự thật, của quyền lợi khoác chiếc áo mỹ miều chủ nghĩa này, giáo điều nọ. Cũng chỉ là cá mè một lứa thôi!

Ông vói tay lấy bình trà, rót vào cái ly cối một chút. Trà đã tới. Ông rót đến 3/4 ca, cầm ca trà bằng hai bàn tay đưa lên miệng uống một hớp. Trà thơm ngon. Tay ấm áp. Ông khoan khoái, uống thêm một hớp, rồi ông để ly trà xuống bàn, dùng con chuột tìm một truyện ông đang viết dang dở trên ổ C. Ông ngừng ở truyện “Thầy Salomon Minh” và bấm con chuột hai lần để mở truyện. Ông đọc lại truyện ngay từ đầu. Ký ức mang ông về với kỷ niệm xưa, ngày ông tìm thăm thầy cũ ở Mai Thôn, rồi trở về xa hơn nữa, về những tháng năm ông theo học trường nội trú xa nhà, nơi ông gặp thầy Salomon Minh, một vị chân tu đáng yêu, đáng kính, một người thầy đã gây một dấu ấn sâu đậm vào  cuộc đời của ông.  Ông gõ tay trên phím, tiếp tục viết . . .

Viết được hơn trang, ông đứng lên, vươn vai. Ông cầm ly trà, uống một hớp, bước đến bên cửa, nhìn ra sân sau nhà.  Trời đã sáng hẳn, một vùng mây xám đang tụ lại trên nền trời, gió đã nổi lên từng cơn nhẹ. Mái tóc ả bụi đời, cây liễu bên nhà hàng xóm, trông như đang lúc lắc với điệu nhạc sun (2). Ông nhìn đồng hồ treo trên tường, gần bảy giờ rưỡi. Giờ này các bạn đồng sự của ông đã ra sân gôn. Chắc họ đang thất vọng vì thời tiết xấu. Ông chợt nhớ ra lâu quá rồi ông không có dịp chơi gôn với hai thằng con. Ông đã bỏ lơ, không có “thời giờ vàng ngọc” với chúng. Ông thầm hứa, nếu hôm nay trời tốt lại ông sẽ rủ chúng đi chơi gôn. Nhưng ông nhìn vào máy vi tính, tự bảo, phải viết cho xong ngày hôm nay.  Truyện bỏ dở khó viết tiếp lắm. Ông có quá nhiều truyện viết dở dang vì việc nầy, chuyện nọ, mất hết cảm hứng. Sáng thứ bảy, chúa nhật là thời gian duy nhất ông có thể viết. Nhưng viết để làm gì, ông đã nhiều lần tự hỏi.  Một ông bạn văn đã về hưu bảo rằng ông viết để luyện trí óc, mong về sau sẽ không sớm bị bệnh lẫn. Một vị thầy cũ khuyên ông viết để duy trì Việt ngữ, loại Việt ngữ chính thống vì bên nhà người ta đã và đang chế biến quá nhiều từ ngữ lai căng, dị hợm. Trong vòng gia đình, anh chị em ông bảo nhau - viết để cho lũ nhỏ đọc và hiểu nguồn gốc, cuộc đời lưu vong, tị nạn của mình. Riêng ông, ông viết cho chính mình, ông viết như là một thú tiêu khiển cho tuổi chớm già, và ông viết để gởi gấm tâm tư. Nếu chia sẻ được với anh chị em, bạn hữu thì vui. Con cháu ông đọc được là điều hay. Ông không dám mộng ước lớn lao hơn.

Có tiếng động nhỏ và một bàn tay chạm vào vai ông, bóp nhẹ. Ông quay lại. Đó là thằng con. Nó hỏi:
“Ba thức dậy sớm viết văn nữa hả?”
“Ừ, ba đang viết một truyện ngắn về ông thầy cũ. Còn con, sao hôm nay con thức sớm vậy?”
“Dạ, con định cắt cỏ rồi đi chơi gôn.  Coi chừng ba mê viết văn rồi quên luôn vợ con đó nghe. Má than phiền đó!”
Ông cười. Cái thằng lý sự, nhưng nó có phần đúng.
“Trời muốn mưa. Cắt cỏ, chơi gôn sao được con?”
Dạ, con xem trên nết (3) rồi. Trời sẽ không mưa đâu.
OK. Nếu trưa nay trời tốt mấy cha con mình đi đánh  gôn nghe!
Dạ, không được, hôm nay con có hẹn với mấy đứa bạn đi chơi gôn  sau khi cắt cỏ ở nhà rồi. Ba đi chơi với anh hai đi.
Vậy thì thứ bảy tuần tới được không?
“OK. Deal?” (4)
 Deal!”

Cha mầy! Deal với điếc. Ông ngồi xuống ghế, tiếp tục gõ … nhưng không được bao lâu vì tiếng động từ nhà bếp, mùi chiên xào thơm phức. Thằng con vừa nghe nhạc qua chiếc iPod, vừa chiên trứng với thịt nguội, nướng bánh mì ăn sáng. Ông nhìn nó, vui trong lòng. Mới đó mà đã lớn khôn, biết giúp gia đình, biết tự lo miếng ăn miếng uống. Nó dọn thức ăn ra dĩa, rót một ly nước cam tươi, ngồi đối diện với ông, rồi … ăn sáng một mình. Mới vui đó mà bây giờ lòng ông lâng lâng hờn mát. Thằng con sao quá vô tình, nó không mời ông một tiếng, không hỏi ông đã dùng điểm tâm chưa. Ông nhìn xem nó có để ý mà mời ông không, dù là mời lơi. Nó nhìn ông, vẻ mặt đầy thắc mắc. Nó cầm dĩa thức ăn, ly nước cam, đứng lên, nói:
“Con đi sang phòng khách ăn để ba dể tập trung tư tưởng mà viết …”
Ông khoát tay, bảo nó ngồi xuống:
 “Ba chưa ăn sáng. Đói bụng quá mà con không mời ba một tiếng.”
Nó bỏ ống nghe ra khỏi tai, hỏi:
“Dạ, ba nói gì con nghe không được.”
Ông gằn từ tiếng một:
“Ba nói ba đói bụng. Con làm đồ ăn mà không làm cho ba ăn luôn.”
Nó ngạc nhiên:
“Con đâu có biết ba muốn ăn sáng mà làm cho ba. Why don't you ask? (5)”

Thằng cha mầy! Hỏi hay không hỏi. Ông thoáng giận thằng con. Nhưng, nhìn vẻ mặt ngơ ngác của nó ông chợt nhớ ra trong lúc viết văn ông chìm đắm trong giấc mộng trở về Việt Nam mà quên rằng con ông sanh đẻ ở Mỹ. Nó như một thằng Mỹ con, không hơn không kém. Ông bà dạy con nói tiếng Việt và cung cách của người Việt. Nhưng ngoài gia đình, chúng đi học, đi làm với người Mỹ, làm sao chúng không nhiễm những phong tục tập quán của người Mỹ, như sống sòng phẳng, tự lập, muốn gì thì cứ nói thẳng ra …  Ông đã đòi hỏi quá đáng rồi. Chính ông có lần ở vào một trường hợp tương tợ.  Ông làm việc cho hãng X được hơn ba năm. Ông thích công việc vì được học hỏi nhiều và chỗ làm gần nhà, không mất thời giờ trên xa lộ. Tuy nhiên, lương bổng không tương xứng với kinh nghiệm và việc làm của ông. Ông bất mãn, nhưng ngại nói chuyện tiền nong với người chủ sự. Do đó, ông định đi tìm việc ở công ty khác. Ông nói riêng với một đồng sự người Mỹ rất thân, ông ta bảo: “Sao bạn không nói cho ông chủ sự của bạn biết? Bạn không mất mát chi cả. Được lên lương thì tốt, không thì bạn tìm việc khác như bạn đã dự tính. Đơn giản vậy thôi!”  Lần đó, ông nói và được tăng lương.
Ông đứng dậy,  mỉm cười, đến gần, vỗ vai thằng con:
“Người Việt Nam mình là vậy, biết để ý đến kẻ trên người dưới. Trong trường hợp sáng nay, đáng lý con phải hỏi ba trước, chứ không đợi ba hỏi, vì con là con, ba là cha. Hiểu không?”
Thằng con gật gật cái đầu, nhưng ông không chắc nó hiểu rõ những lời ông dạy.  Nó đứng dậy, nói:
“Vậy để con chiên trứng cho ba nghe. Ba thích trứng omelette hay là scramble? Ham hay là sausage (6)?
Ông bóp vai nó, thật chặt.
Thôi, con ăn sáng đi. Để ba tự làm thức ăn, ba làm cho má con ăn luôn.

Ông mở tủ lạnh, lấy trứng. Lúc đó, ông thấy ông rất cần phải tiếp tục viết, không chỉ cho chính ông mà còn cho lũ con cháu, để kể lại những chuyện như ngày hôm nay. Linh tính cho ông biết sau này hai thằng con ông sẽ đọc. Nếu chúng không đọc, thì con chúng, cháu chúng sẽ đọc. Lá rụng về cội, ông tin như thế.

Ngoài kia, đám mây xám đã bay đi. Trời trong xanh. Dự báo thời tiết đúng, không sai.

đàoanhdũng
Tháng sáu, 2006

Ghi chú:
(1)   Tên của anh chàng gấu, một vai trong phim hoạt họa Disney.
(2)   Soul. Loại nhạc bắt nguồn từ các nhạc sĩ da màu Hoa Kỳ như Ray Charles, Sam Cooke, James Brown.
(3)   Mạng lưới.
(4)   Đồng ý.
(5)   Tạm dịch là “Sao ba không hỏi?”
(6)   Các thức ăn xúc xích, trứng chiên dùng cho buổi điểm tâm.


Hân hạnh đón nhận những lời bình luận dễ thương của bạn.

19 tháng 11, 2013

Tiểu Tử - Bài Ca Vọng Cổ


Tôi  định cư ở Pháp. Năm đó tôi  mới có  49 tuổi, vậy mà đi tìm việc
làm đến đâu người ta cũng chê là tôi già! Vì vậy, một hôm, khi chải
tóc, tôi nhìn kỹ tôi trong gương. Tôi bỗng thấy ở đó có một người có
vẻ như quen nhưng thật ra thì rất lạ: mắt sâu, má hóp, mặt đầy nếp
nhăn trên trán, ở đuôi mắt, ở khoé môi, mái tóc đã ngà bạc cắt tỉa thô
sơ như tự tay cắt lấy. Từ bao lâu nay tôi không để ý, bây giờ soi
gương vì bị chê già, tôi mới thấy rằng tôi của hồi trước năm 1975 và
tôi của bây giờ - nghĩa là chỉ sau có mấy năm
- thật không giống nhau chút nào hết. Tôi già thiệt, già
trước tuổi. Cho nên, tôi nhìn tôi không ra. Từ đó, mỗi ngày tôi
....tập nhìn tôi một lần, nhìn kỹ, cho quen mắt!

Một người bạn làm việc lâu năm ở Côte d’ivoire (Phi Châu) hay tin tôi
đã qua Pháp và vẫn còn thất nghiệp, bèn giới thiệu tôi cho Công ty
Đường Mía của quốc gia. Không biết anh ta nói thế nào mà họ nhận tôi
ngay, còn gởi cho tôi vé máy bay nữa!

Xưa nay, tôi chưa từng quen một người da đen gốc Phi Châu nào hết. Và
chỉ có vài khái niệm thô sơ về vùng Phi Châu da đen như là: ở đó nóng
lắm, đất đai còn nhiều nơi hoang vu, dân chúng thì da đen thùi lùi,
tối ngày chỉ thích vỗ trống, thích nhảy tưng tưng.v.v... Vì vậy, tôi
hơi ...ngán. Nhưng cuối cùng rồi tôi cũng quyết định qua xứ da đen để
làm việc, danh dự hơn là ở lại Pháp để tháng tháng vác mặt Việt Nam đi
xin trợ cấp đầu nọ, đầu kia...

Nơi tôi làm việc tên là Borotou, một cái làng nằm cách thủ đô Abidjan
gần 800km! Vùng này toàn rừng là rừng. Không phải là rừng rậm rì cây
cao chớn chở như ở Việt Nam. Rừng ở đây cây thấp lưa thưa, thấp thấp
cỡ mươi, mười lăm thước ...coi khô hóc. Không có núi non, chỉ có một
vài đồi trũng, nhưng đồi không cao và trũng không sâu. Nhà nước phá
rừng trồng mía. Ruộng mía ngút ngàn! Nằm ở trung tâm là khu nhà máy,
khu cơ giới, khu hành chánh, khu cư xá.v.v... Khu nầy nằm cách khu
kia cỡ vài cây số.

Muốn về thủ đô Abidjan, phải lái xe hơi chạy theo đường mòn xuyên rừng
gần ba chục cây số mới ra tới đường cái tráng nhựa. Từ đó chạy đi
Touba, một quận nhỏ với đông đảo dân cư. Từ đây, lấy máy bay Air
Afriqua về Abidjan, mỗi ngày chỉ có một chuyến. Phi trường Touba nhỏ
xíu, chỉ có một nhà ga xây cất sơ sài và một phi đạo làm bằng đá đỏ,
mỗi lần máy bay bay lên đáp xuống là bụi bay ...đỏ trời!

Tôi hơi dài dòng ở đây để thấy tôi đi "làm lại cuộc đời" ở một nơi
hoang vu hẻo lánh mà cảnh trí thì chẳng có gì hấp dẫn hết! Thêm vào
đó, tôi là người Á Đông duy nhứt làm việc chung với Tây trắng (chỉ có
năm người) và Tây đen (đông vô số kể). Ở đây, thiên hạ gọi tôi là "le
chinois" - thằng Tàu - Suốt ngày, suốt tháng tôi chỉ nói có tiếng
Pháp. Cho nên, lâu lâu thèm quá, tôi soi gương rồi ...nói chuyện với
tôi bằng tiếng Việt, trông giống như thằng khùng! Chưa bao giờ tôi
thấy tôi cô đơn bằng những lúc tôi đối diện tôi trong gương như vậy.

Một hôm, sau hơn tám tháng "ở rừng", tôi được gọi về Abidjan để họp
(Đây là lần đầu tiên tôi được về thủ đô). Anh tài xế đen đưa tôi ra
Touba. Chúng tôi đến phi trường lối một giờ trưa.

Sau khi phụ tôi gởi hành lý, anh tài xế nói:

- Tôi ra ngủ trưa ở trong xe. Chừng Patron (ông chủ) đi được rồi tôi
mới về.
Ở xứ da đen, họ dùng từ "Patron" để gọi ông chủ, ông xếp,
người có địa vị, có tiền, người mà họ nể nang.v.v... Nghe quen rồi,
chẳng có gì chói lỗ tai hết!

Tôi nói:

- Về đi! Đâu cần phải đợi!

Hắn nhăn răng cười, đưa hàm răng trắng toát:

- Tại Patron không biết chớ ở đây lâu lâu họ lại huỷ chuyến bay vào
giờ chót, nói tại máy bay ăn-banh ở đâu đó. Máy bay cũng như xe hơi
vậy, ai biết lúc nào nó nằm đường.

Rồi hắn đi ra xe. Tôi ngồi xuống một phô-tơi, nhìn quanh : hành khách
khá đông , nhiều người ngồi với một số hành lý như thùng cạc-tông, bao
bị, va- ly.v.v... Không phải họ không biết gởi hành lý, nhưng vì những
gì họ gởi đã đủ số ký-lô dành cho mỗi hành khách, nên số còn lại họ
...xách tay, cho dầu là nhiều món vừa nặng vừa cồng kềnh!

Không khí nóng bức. Mấy cái quạt trần quay vù vù, cộng thêm mấy cây quạt
đứng xoay qua xoay lại, vậy mà cũng không đủ mát. Thiên hạ ngủ gà ngủ
gật, tôi cũng ngả người trên lưng ghế, lim dim... Trong lúc tôi thiu
thiu ngủ thì loáng thoáng nghe có ai ca vọng cổ. Tôi mở mắt nhìn quanh
thấy không có gì, bèn thở dài, nghĩ: "Tại mình nhớ quê hương xứ sở quá
nên trong đầu nghe ca như vậy". Rồi lại nhắm mắt lim dim... Rồi tôi
lại nghe vọng cổ nữa. Mà lần này nghe rõ câu ngân nga trước khi "xuống
hò":
… " Mấy nếp nhà tranh ẩn mình sau hàng tre rũ bóng đang vươn lên
ngọn khói  á lam à chiều … "
Đúng rồi! Không phải tôi đang mơ, mà rõ ràng có ai đang ca vọng cổ
ngoài kia. Tôi nhìn ra hướng đó, thấy xa xa dưới lùm cây dại có một
người da đen nằm võng. Và chỉ có người đó thôi. Lạ quá! Người da đen
đâu có nằm võng. Tập quán của họ là nằm một loại ghế dài bằng gỗ cong
cong. Ngay như loại ghế bố thường thấy nằm dưới mấy cây dù to ở bãi
biển ...họ cũng ít dùng nữa.

Tò mò, tôi bước ra, đi về hướng đó để xem là ai vừa ca vọng cổ lại vừa
nằm võng đong đưa. Thì ra là một anh đen còn trẻ, còn cái võng là loại
võng nhà binh  hồi xưa. Tôi nói bằng tiếng Pháp: "Bonjour!"

Anh ngừng ca, ngồi dậy nhìn tôi mỉm cười, rồi cũng nói "Bonjour". Tôi
hỏi, vẫn bằng tiếng Pháp:

- Anh hát cái gì vậy?

Hắn đứng lên, vừa bước về phía tôi vừa trả lời bằng tiếng Pháp:

- Một bài ca của Việt Nam. Còn ông? Có phải ông là le chinois làm việc
cho hãng đường ở Borotou không?

Tôi trả lời, vẫn bằng tiếng Pháp:

- Đúng và sai! Đúng là tôi làm việc ở Borotou. Còn sai là vì tôi không
phải là người Tàu. Tôi là người Việt Nam.

Nghe vậy, hắn trợn mắt có vẻ vừa ngạc nhiên, vừa mừng rỡ, rồi bật ra
bằng tiếng Việt, giọng đặc sệt miền Nam, chẳng có một chút lơ lớ:

- Mèn đéc ơi! ...Bác là người Việt Nam hả?

Rồi hắn vỗ lên ngực:

- Con …con cũng là người Việt Nam nè!

Thiếu chút nữa là tôi bật cười. Nhưng tôi kềm lại kịp, khi tôi nhìn
gương mặt rạng rỡ vì sung sướng của hắn. Rồi tôi bỗng nghe một xúc
động dâng tràn lên cổ. Thân đã lưu vong, lại "trôi sông lạc chợ" đến
cái xứ "khỉ ho cò gáy" này mà gặp được một người biết nói tiếng Việt
Nam và biết nhận mình là người Việt Nam, dầu là một người da đen, sao
thấy quý vô cùng. Hình ảnh của quê hương như đang ngời lên trước mắt
tôi...

Tôi bước tới bắt tay hắn. Hắn bắt tay tôi bằng cả hai bàn tay, vừa lắc
vừa nói huyên thuyên:

- Trời ơi!... Con mừng quá! Mừng quá! Trời ơi!... Bác biết không? Bao
nhiêu năm nay con thèm gặp người Việt để nói chuyện cho đã. Bây giờ
gặp bác, thiệt... con mừng "hết lớn" bác à!

Rồi hắn kéo tôi lại võng:

- Bác nằm đi! Nằm đi!

Hắn lại đống gạch "bờ-lóc" gần đó lấy hai ba viên kê bên cạnh võng
rồi ngồi lên đó, miệng vẫn không ngừng nói:

- Con nghe thiên hạ nói ở Borotou có một người Tàu. Con đâu dè là bác.
Nếu biết vậy con đã phóng Honđa vô trỏng kiếm bác rồi! Đâu đợi tới bây giờ...

Hắn móc gói thuốc rút lòi ra một điếu rồi mời tôi:

- Mời bác hút với con một điếu.

Hắn đưa gói thuốc về phía tôi, mời bằng hai tay. Một cử chỉ mà từ lâu
tôi không còn nhìn thấy. Một cử chỉ nói lên sự kính trọng người trưởng
thượng. Tôi thấy ở đó một "cái gì" rất Việt Nam.

Tôi rút điếu thuốc để lên môi. Hắn chẹt quẹt máy, đưa ngọn lửa lên đầu
điếu thuốc, một tay che che như trời đang có gió. Tôi bập thuốc rồi
ngạc nhiên nhìn xuống cái quẹt máy. Hắn nhăn răng cười:

- Bộ bác nhìn ra nó rồi hả?

Tôi vừa nhả khói thuốc vừa gật đầu. Đó là loại quẹt máy Việt Nam, nho
nhỏ, dẹp lép, đầu đít có nét cong cong. Muốn quẹt phải lấy hẳn cái nắp
ra chớ nó không dính vào thân ống quẹt bằng một bản lề nhỏ như những
quẹt máy ngoại quốc. Hắn cầm ống quẹt, vừa lật qua lật lại vừa nhìn
một cách trìu mến:

- Của ông ngoại con cho đó! Ông cho hồi ổng còn sống lận. Rồi hắn bật
cười: "Hồi đó ông gọi con bằng "thằng Lọ Nồi".

Ngừng một chút rồi tiếp:

- Vậy mà ổng thương con lắm à bác!

Hắn đốt điếu thuốc, hít một hơi dài rồi nhả khói ra từ từ. Nhìn cách
nhả khói của hắn tôi biết hắn đang sống lại bằng nhiều kỷ niệm... Tôi
nói:

- Vậy là cháu lai Việt Nam à?

- Dạ. Má con quê ở Nha Trang.

- Rồi má cháu bây giờ ở đâu?

Giọng của hắn như nghẹn lại:

- Má con chết rồi. Chết ở Nha Trang.

- Còn ba của cháu?

- Ổng hiện ở Paris. Tụi này nhờ có dân Tây nên sau 1975 được hồi
hương. Con đi quân dịch cho Pháp xong rồi, về đây ở với bà nội. Con
sanh ra và lớn lên ở Sài Gòn, về đây, buồn thúi ruột thúi gan luôn!

Tôi nhìn hắn một lúc, cố tìm ra một nét Việt nam trên con người hắn.
Thật tình, hắn không có nét gì lai hết. Hắn lớn con, nước da không đến
nỗi đen thùi lùi như phần đông dân chúng ở xứ này, nhưng vẫn không có
được cái màu cà phê lợt lợt để thấy có chút gì khác khác. Tóc xoắn sát
da đầu, mắt lồi với đôi môi dầy...

Tôi chợt nói, nói một cách máy móc:

- Thấy cháu chẳng có lai chút nào hết!

Hắn nhìn thẳng vào mắt tôi, giọng nghiêm trang:

- Có chớ bác. Con có lai chớ bác.

Hắn xoè hai tay đưa ra phía trước, lật qua lật lại:

- Bên nội của con là nằm ở bên ngoài này đây nè.

Rồi hắn để một tay lên ngực, vỗ nhè nhẹ về phía trái tim:

- Còn bên ngoại của con nó nằm ở bên trong. Ở đây, ở đây nè bác.

Bỗng giọng hắn nghẹn lại:

- Con lai Việt Nam chớ bác !

Trong khoảnh khắc, tôi xúc động đến quên mất màu da đen của hắn, mà
chỉ thấy trước mặt một thanh niên Việt Nam, Việt Nam từ cử chỉ tới lời
lẽ nói năng. Tôi vói tay vỗ nhẹ lên vai hắn mấy cái, gật đầu nói:

- Ờ.... Bác thấy. Bây giờ thì bác thấy...

Hắn mỉm cười:

- Ở đây người ta nói con không giống ai hết, bởi vì con hành động cư
xử, nói năng không giống họ. Bà nội con cũng nói như vậy nữa! Còn con
thì mỗi lần con nhìn trong gương, con vẫn nhận ra con là người Việt
Nam. Bác coi có khổ không?

Rồi nó nhìn tôi, một chút trìu mến dâng lên trong ánh mắt:

- Bây giờ con gặp bác rồi, con thấy không còn cô đơn nữa. Gặp một
người giống mình, ở cái xó xa xôi hẻo lánh này, thiệt là trời còn
thương con quá!

Tôi im lặng nghe hắn nói, nhìn hắn nói mà có cảm tưởng như hắn đang
nói cho cả hai: cho hắn và cho tôi. Bởi vì cả hai cùng một tâm
trạng...

Hắn vẫn nói, như hắn thèm nói từ lâu:

- Nhớ Sài Gòn quá nên con hay ca vọng cổ cho đỡ buồn. Hồi nãy bác lại
đây là lúc con đang ca bài "Đường về quê ngoại" đó bác.

- Bác không biết ca, nhưng bác cũng rất thích nghe vọng cổ.

Giọng nói hắn bỗng như hăng lên:

- Vọng cổ là cái chất của miền Nam mà bác. Nó không có lai Âu lai Á gì
hết. Nó có cái hồn Việt Nam cũng như cá kho tộ, tô canh chua. Bác thấy
không? Bởi vậy, không có gì nhắc cho con nhớ Việt Nam bằng bài ca vọng
cổ hết.

- Bác cũng vậy.

Tôi nói mà thầm phục sự hiểu biết của hắn. Và tôi thấy rất vui mừng có
một người như vậy để chuyện trò từ đây về sau....

Có tiếng máy bay đang đánh một vòng trên trời. Chúng tôi cùng đứng
lên, hắn nói:

- Nó tới rồi đó. Con phải sửa soạn xe trắc-tơ và rờ-mọt để lấy hành
lý. Con làm việc cho hãng  Air Afriqua, bác à.

Rồi hắn nắm tay tôi lắc mạnh:

- Thôi, bác đi mạnh giỏi. Con tên là Jean. Ở đây ai cũng biết "Jean le
Vietnamien" hết. Chừng dìa lại đây bác ghé con chơi, nghen.

Bỗng, hắn ôm chầm lấy tôi siết nhẹ rồi giữ như vậy không biết bao
nhiêu lâu. Tôi nghe giọng hắn lạc đi:

- Ghé con nghe bác... Nhớ ghé con , nghen ...

Tôi không còn nói được gì hết. Chỉ vừa gật đầu vừa vỗ vỗ vào lưng hắn như

vỗ lưng một người con...

Khi hắn buông tôi ra, tôi thấy hai má của hắn ướt nước mắt. Tôi vội
quay đi, lầm lũi bước nhanh nhanh về nhà ga mà nghĩ thương cho "thằng
Jean le Vietnamien". Hồi nãy nó ôm tôi, có lẽ nó đã tưởng tượng như là
nó đang ôm lại được một góc trời quê mẹ...

...Trên máy bay, tôi miên man nghĩ đến "thằng Jean" rồi tự hứa sẽ gặp
lại nó thường. Để cho nó bớt cô đơn. Và cũng để cho tôi bớt cô đơn
nữa!

                                                  * * *

Bây giờ, viết lại chuyện thằng Jean mà tôi tự hỏi: "Trong vô số người
Việt Nam lưu vong hôm nay, còn được bao nhiêu người khi nhìn trong
gương vẫn nhận ra mình là người Việt Nam? Và có được bao nhiêu người
còn mang mểnh trong lòng bài ca vọng cổ, để thấy hình ảnh quê hương
vẫn còn nằm nguyên trong đó?"


Tiểu Tử - Paris

6 tháng 11, 2013

Doãn Quốc Vinh - Lạy Trời Lạy Phật

ới Trời, ới Phật ... từ tâm
con nào có muốn ôm nhầm thị phi
ới Đời ... mê bước mải đi
lỡ chân dẫm nát sân si ...
chẳng ngờ!

Doãn Quốc Vinh - California

1 tháng 11, 2013

Truyện ngắn mà dài


Dù mùa nào, dù ở nơi đâu, tôi vẫn luôn luôn tay trong tay với nàng.
Nếu không, nàng đi mua sắm.

đàoanhdũng


  


Hân hạnh đón nhận những lời bình luận dễ thương của bạn.