Thú vui nhiếp ảnh thơ văn
Sẻ chia cùng bạn tri âm khắp miền.

đào anh dũng




7 tháng 8, 2013

2. Câu Kinh Đầu Đời (Hồi ký của một cựu học sinh trường dòng)



Tựu trường năm ấy, năm 1960, lần đầu tiên tôi sống đời học sinh nội trú xa nhà.
Sáng hôm lên trường, tôi khoanh tay thưa ông nội để đi học. Nội vò đầu tôi, biểu tôi ráng học cho giỏi, và nội cho tôi một trăm đồng để ăn bánh. Thiệt là le! Mà tôi có cần phải ăn xài gì trong trường nội trú, hai chục đồng ba má cho là quá đủ. Sau đó, mỗi tháng ông nội cho tôi một trăm. Tôi để dành nhờ anh Kiệt, người anh thứ ba của tôi, mua cho tôi một cái đồng hồ đeo tay hiệu Cytas giá 600 đồng. Đó là cái đồng hồ đeo tay đầu đời của tôi.
Tôi vào lớp 7è Spéciale dành riêng cho các học sinh chuyển từ lớp nhứt chương trình Việt sang chương trình Pháp. Trường Mossard có ba dortoir (nhà ngủ) dành cho học sinh. Dortoir nhỏ, gọi là petit dortoir, cho học sinh các lớp 11è, 10è và 9è; dortoir trung bình cho các lớp 8è, 7è, 7è Spéciale và 6è Préparatoire; từ 6è trở lên học sinh  ngủ ở dortoir lớn. Tôi thuộc lứa trung bình nhưng dượng mười của tôi xin cho tôi đổi sang petit dortoir để được cái giường kế bên Tâm, con của cô dượng, cho có anh có em bên cạnh nhau.
Tuần lễ đầu tôi rất bỡ ngỡ, gặp toàn là bạn mới. Trong trường chỉ có thầy chứ không có một cô giáo nào. Thầy đây là thầy dòng, ngoại trừ vài thầy giáo mặc thường phục, ai cũng mặc áo dòng đen, trên cổ mang cái rabat màu trắng, giống như cái cà-vạt nhưng ngắn ngủn, vuông vức, hình như làm bằng plastic. Khi ấy, tôi thấy thầy nào cũng như thầy nấy, khó biết ai là ai ngoài thầy dạy học của mình.
Tôi xin mở một dấu ngoặc ở đây. Trường Mossard những năm tôi học không có một bóng dáng phụ nữ nào. Ngoài các thầy, thầy dòng hay thầy giáo, nhân viên văn phòng, quét dọn, sửa chữa, nhà bếp ... toàn là đàn ông. Có chăng là ở dãy phố nằm dưới đồi, kế bên piscine, nơi cư ngụ của vài gia đình nhân viên nhà trường. Khu cư xá này có đôi bóng hồng tôi xin dành kể lại vào một chương khác của tập hồi ký này.
Vì lúc mới vào trường tôi không phân biệt được các thầy trong chiếc áo dòng đen nên tôi mới có cơ duyên gặp một vị  đã ảnh hưởng sâu đậm đến tôi sau này.
Hôm tựu trường, buổi chiều ra chơi tôi gặp một ông thầy dòng đầu sói với một gương mặt phúc hậu. Tôi cúi đầu chào vì hình như đây là ông thầy anh tôi đã giới thiệu hôm đi thi. Hôm sau, gặp thầy này tôi cũng cúi đầu chào. Khi tôi chào lần thứ ba, thầy bước đến bên tôi và hỏi:
“Sao lần nào gặp frère con cũng chào vậy?”
Tôi ấp úng nói:
“Dạ, con nhớ có gặp frère hôm hè đi thi, anh con dẫn con đến chào frère.”
Nghe đến đó, thầy ngạc nhiên nói:
“Chắc con lộn frère với frère nào rồi vì frère chưa có gặp con lần nào.”
“Dạ, a ... a ... vậy ... chắc là con nhìn lộn frère với frère ‘Sê Chen’ rồi.”
Ông thầy dòng cười ngất, rất vui vẻ, hiền hậu:
“À ... chắc là hôm ấy con gặp frère Bề trên Sébastien bên Đệ Tử viện. Còn frère là frère Sa ... lo ... mon.  Sébastien đọc là Sé ... bas ... tien chớ không phải Sê Chen đâu nghen con.”
Tuần lễ sau, tôi gặp thầy Salomon hàng ngày vì đến phiên thầy làm surveillant (giám thị) nhà ngủ nhỏ.

Học trường đạo Thiên Chúa, khi vào lớp chúng tôi đọc kinh. Học xong cũng đọc kinh. Trước và sau khi ăn đọc kinh. Đến giờ đi ngủ sắp hàng trước hang đá Đức Mẹ đọc kinh. Ngủ dậy, mắt nhắm mắt mở, lại đọc kinh. Trong khi đó, gia đình ba má tôi đạo thờ ông bà, thỉnh thoảng tôi  thấy má tôi đi chùa lạy Phật. Ở nhà, mỗi lần cúng giỗ, ba tôi biểu anh em chúng tôi xá trước bàn thờ Ông Bà. Cạnh nhà ông nội tôi có một cái am do ông cố chú của tôi làm chủ lúc sanh tiền. Anh năm của tôi có nhiệm vụ sang bên am đốt nhang mỗi buổi tối, thỉnh thoảng tôi thay thế anh năm đi đốt nhang.
Tôi chưa hề biết, chưa hề đọc một câu kinh nào.
Trước khi tôi thi vào trường Mossard, chị Paulette dạy tôi Pháp văn chớ chị không có dạy tôi đọc kinh Thiên Chúa bằng tiếng Pháp. Anh tư cũng không có dạy tôi câu kinh nào và anh cũng không căn dặn tôi điều gì khi ở nội trú. Hôm nay nhớ lại tôi khâm phục và cám ơn anh. Tôi nghĩ rằng anh muốn tôi tự khám phá, học hỏi những điều mới lạ và tự bươn chải lo lấy thân trong những năm đi học xa nhà ấy. Những kinh nghiệm sống với thầy, với bạn trong những năm tháng Mossard với lòng chân tình, đức bác ái và ý chí sinh tồn đã giúp tôi rất nhiều sau khi tôi trưởng thành, chạm trán với đời. Thói quen tự lập hữu ích này có vài lần giúp tôi thoát chết trong thời chiến tranh.
Mấy ngày đầu ở trường nội trú, tôi bắt chước các bạn làm dấu Thánh Giá rồi đọc kinh theo tụi nó, câu kinh bằng tiếng Pháp tôi không hiểu gì cả nhưng cứ nhắm mắt nháy theo mà đọc, không chút mắc cỡ. Một buổi tối, tôi đứng gần thầy Salomon đọc kinh cùng chúng bạn trước khi đi ngủ, tôi để ý thấy thầy nhìn tôi rồi mỉm cười nhưng tâm hồn vô tư tôi không thắc mắc tại sao thầy cười mình. Sáng hôm sau, thầy đưa cho tôi một tờ giấy chép tay ba kinh Lạy Cha, Kính Mừng và Sáng Danh bằng tiếng Pháp và tiếng Việt, biểu tôi học thuộc lòng và đọc cho trúng, có thắc mắc gì thì hỏi thầy.
Đó là những câu kinh đầu đời của tôi.
Đó là những câu kinh tôi vẫn còn nhớ rành rành khi rời mái trường Mossard và trong những năm tháng nhiểu nhương. Đó cũng là những câu kinh tôi đọc khi gặp những khổ tâm, lo sợ, khi ở giữa sự sống và cái chết. Và đó cũng là những câu kinh tôi đọc khi “gặp lại” Chúa và trở thành con của Chúa, và lúc ấy tôi nhớ đến thầy Salomon của tôi thật nhiều. 

đàoanhdũng
www.lasanmossard.org

 (Xem tiếp)
Hân hạnh đón nhận những lời bình luận dễ thương của bạn. 

6 tháng 8, 2013

Lục Bình Cẩm Giang



Tôi yêu màu tím, màu mực học trò tuổi thơ dại, màu trái mồng tơi vườn quê, màu hoa păng-xê (1) Đà Lạt, màu hoa sim thơ Hữu Loan.  Khi “bồ” với tôi, chàng (cha của bầy trẻ) nói với tôi rằng chàng cũng yêu màu tím. Lần hồi tôi mới biết chàng chỉ  “nịnh đầm.” Thật ra, chàng thích màu da trời xanh lơ, xanh biếc vì áo sơ-mi hay pô-lô (2) hay ti-sợt (3) của chàng đa số màu xanh. Tôi không màng tới vì đó chẳng qua là một lời nói dối ...  dễ thương.  Có điều mỗi lần tôi nói đến màu tím gương mặt chàng lại thoáng ngẩn ngơ, nhắc đến màu tím hoa lục bình quê cũ. Tôi đâm ra thắc mắc.



Tôi sinh trưởng ở Sài gòn. Ba mạ tôi, gốc miền Trung, cư ngụ bên rạch Nhiêu Lộc, gần nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế. Khi còn nhỏ,  thỉnh thoảng tôi thấy một về lục bình trôi lững lờ, mênh mang theo con nước.  Anh tôi, một người có tâm hồn thi sĩ đọc mấy câu thơ (không biết anh đặt hay lượm ở mô):


       Thân em như thể lục bình,

       Sóng xô gió dập lênh đênh giữa dòng ...



Ba tôi nghe vậy thì khuyên lơn: “Sống ở đời mấy con phải có định hướng, chớ đừng có như lục bình, rày đây mai đó, bạ đâu tấp đó!”  Khi ấy tôi còn ở tuổi ăn chưa no, lo chưa tới, tôi nào hiểu số phận nổi trôi của lục bình.  Đến lúc cùng gia đình vượt biên, tôi mới thấm thía thế nào là lênh đênh trên sóng nước.



Nghe chàng nói hoa lục bình mà thời ấy in-tợt-nét (4) còn phôi thai, gu-gờn (5), da-hu (6) còn trong trứng nước nên tôi không có cách nào để tìm kiếm mà biết hình dáng nó ra làm sao.  Hỏi thì chàng bảo rằng nó màu tim tím như hoa bằng lăng, hoa sim, chính giữa có nhụy vàng. Một mình, hoa lục bình không có nét gì thật đặc sắc. Nó mong manh, đơn giản, không rực rỡ như hoa cúc, hoa hồng, hoa mẫu đơn. Chàng hứa sẽ có ngày chàng đưa tôi về thăm quê nhà Tây Ninh, đi ngắm hoa lục bình ở Cẩm Giang. Nơi ấy lục bình mọc đầy dòng Vàm Cỏ Đông; tôi sẽ thấy hoa nở đồng loạt, làm khúc sông quê ấy nổi bật lên. Chàng kể rằng địa danh Cẩm Giang do đó mà ra. Từ xa xưa, nó gợi cho người Tây Ninh hình ảnh một dải gấm (cẩm) trên dòng sông (giang).  Cũng có truyền thuyết nói rằng, ngày xưa có một ông quan người Huế đến viếng vùng này, thấy khúc sông đẹp, uốn khúc như một dải lụa, nên ông quan đặt tên “Cẩm Giang” và cho cất một ngôi chùa bên bờ sông. Chùa này mang tên “Chùa Quan Huế.” Từ đó, tôi mong có ngày thấy tận mắt dải gấm trên sông Vàm.



Cưới nhau được 18 năm chàng mới có dịp đưa tôi về Tây Ninh. Nhân có Giỏi, một người học trò cũ của chàng nhà ở Cẩm Giang đến thăm, tôi mới nhắc đến hoa lục bình. Giỏi thật tốt bụng, hẹn sáng sớm hôm sau đưa chúng tôi đi xem hoa lục bình bằng ghe tam bản.

Trời còn tối mà chàng đã đánh thức tôi dậy. Chàng nói lục bình chỉ nở rộ vào buổi sáng và chàng muốn chụp nhiều ảnh về cảnh vật này lúc mặt trời mọc. Chàng mượn chiếc Honda của chú em, chở tôi đi Cẩm Giang.

Đến nơi, trời mới tờ mờ sáng mà Giỏi đã chờ sẵn. Chàng mời Giỏi đi ăn hủ tiếu. Tôi vui buồn lẫn lộn theo câu chuyện thầy trò chàng kể cho nhau nghe. Chàng hỏi Giỏi về cuộc sống  sau biến cố 30 tháng 4, Giỏi trả lời: “Àng ... a, giải phóng rồi em cưới vợ ở luôn bên nầy, chứ hổng có dìa Bến Cầu.” Chàng tìm hiểu về phong trào nuôi tôm đang rộ, đi đâu cũng nghe người ta nói bỏ ruộng bắt tôm. Giỏi lắc đầu, nói: “Àng ... a, dạ không, em làm ruộng cũng đủ sống nên em hổng ham nuôi tôm, nuôi tép gì hết!” Khi ấy tôi mới nhận ra giọng nói chất phát của người Tây Ninh, đặc biệt khi nghe Giỏi hay bắt đầu câu nói bằng hai chữ: “Àng .... a ...” mà sau này chàng bảo với tôi đó là giọng nói của người gốc Bến Cầu, vùng đồng ruộng bên kia sông Vàm Cỏ.



Giỏi chèo len lỏi giữa đám lục bình khi trời ửng sáng. Chàng lách tách máy chụp hình. Riêng tôi thì như chú thỏ Bugs Bunny trong phim hoạt họa “What’s up doc?” khi chú ta sung sướng đứng giữa rừng cà-rốt. Tôi bàng hoàng ngây ngất giữa triệu triệu cánh hoa màu tím, bàng bạc, trải dài theo dòng nước bất tận. Ánh sáng ban mai càng chứa chan, những chùm hoa lục bình càng nở rộ duyên dáng. Tôi không ngớt đưa tay đỡ chùm hoa này, chùm hoa nọ. Hoa lục bình phía rìa màu tím lợt, bên trong tím đậm hơn, điểm những sợi gân tím sẫm, nhụy màu vàng hình trái tim. Hoa lục bình tuy đơn sơ, bình dị mà nó gợi cho tôi cái tình thôn dã, chất phát, mộc mạc đến duyên dáng giữa sông nước mênh mông của quê hương. Sau những giây phút gần như xuất thần ấy, đầu óc tôi có quá nhiều câu hỏi dành cho Giỏi về lục bình. Nó từ đâu mà ra? Mọc bít lối làm sao ghe thuyền qua lại? Ăn được không? Có công dụng gì đặc biệt không? v.v...

Giỏi trả lời, giải thích theo sự hiểu biết của anh ta nhưng tôi nhận thấy có chút bi hài trong giọng nói. Hoa lục bình đẹp thì có đẹp thật, nhưng chỉ đẹp ở trên dòng sông lưu chảy, đẹp khi được tự do kết bè trên sóng nước bao la. Chưa thấy ai chưng nó trong nhà. Hoa nó quá mong manh lại mau tàn héo khi phải rời môi trường sống. Lục bình đến từ nơi nào, trôi giạt đi nơi đâu; không ai biết.  Tuy nhiên, có người dùng đọt và hoa lục bình làm món ăn dân giả chấm với mắm kho, nhưng phải trụng chín vì ăn sống có thể bị ngứa họng. Cũng có người hái lục bình về bầm nấu cháu cho heo ăn. Người ta cũng đem lục bình về nuôi trong ao nhà. Nó sống chen chút nhau nên cọng dài cả thước tây. Người ta hái những cọng này về chẻ làm tư, phơi khô, đan thành võng nằm khá êm. Có lúc báo chí đăng loạt bài nghiên cứu nào đó nói có thể dùng lục bình để làm giấy, thay cho cây rừng, không phá hoại môi sinh. Nhưng rồi nghiên cứu đó trôi đi như thân phận lục bình trên sông. Năm nào người ta cũng than phiền lục bình làm cản trở lưu thông trên sông Vàm Cỏ. Những lời than phiền ấy rồi cũng cuốn theo con nước như lục bình trôi ...

Nắng vừa gắt chúng tôi quay ghe trở vô bờ, chấm dứt cuộc thưởng ngoạn. Lúc chàng bắt tay cám ơn và giã từ Giỏi, không hiểu sao tôi chợt nhớ đến hai câu thơ tôi đọc đâu đó ở báo chợ:



Cảm thương những đám lục bình

Lênh đênh thân phận đời mình ly hương.



Phải chăng vì tôi quá lưu tâm đến những về lục bình nổi trôi ấy mà đầu óc lại quay về thân phận lưu vong của mình? Vâng, vợ chồng chúng tôi, chàng gốc Tây Ninh, tôi sinh trưởng Sài Gòn, trôi dạt đến tận miền Bắc Mỹ và gặp nhau, sinh sống ở đây trên 30 năm. Chân đã mọc rễ xuống vùng đất giá lạnh này nhưng tâm tư vẫn còn vấn vương quê cũ. Đây không phải là “nhà” của chúng tôi, đúng như câu ngạn ngữ Mỹ: “Tim ta ở đâu, nhà ta ở đó.” (7) Thân nhân, bè bạn, đồng hương của chúng tôi, người sống miền Nam, kẻ miền Tây, miền Đông nước Mỹ, người ở xa tít Châu Úc, Châu Âu. Thời gian cứ biền biệt trôi chúng tôi không có cơ hội gặp nhau đông đảo như các đồng hương ở Nam Cali hay Sydney trong các dịp picnic Hè hay tiệc tất niên, tân niên.



Do sự khởi xướng của một nhà giáo kỳ cựu, các cựu học sinh liên trường Tây Ninh khắp nơi ở hải ngoại  cùng nhau tổ chức buổi hội ngộ lần đầu tiên tại Nam Cali vào năm 2009. Tôi thấy chàng lăng xăng liên lạc thu góp bài vở, trình bày quyển đặc san liên trường, phác họa lô-gô (8), làm pốt-tơ (9) cho buổi họp mặt mà vui lây.  Rồi ngày hội ngộ đến, thầy trò, bè bạn ai nấy tay bắt mặt mừng, líu lo trò chuyện, hồi  tưởng những ngày cùng nhau dưới một mái trường ... Rồi, thầy trò, bạn bè lại xa nhau. Người trở về miền Bắc, miền Đông; kẻ xuôi Nam, kẻ về tận Sydney ...



Hôm ấy, sau khi chia tay với một người bạn miền Đông Bắc tại sân bay Los Angeles, chúng tôi lặng lẽ kéo va-li đi hướng khác để bắt chuyến bay trở về Minneapolis. Tan rồi hợp, hợp rồi tan. Cuộc vui nào rồi cũng tàn. Dù chỉ là một “nàng dâu Tây Ninh” song lòng tôi cũng nặng trĩu với suy nghĩ ấy. Theo thói quen, chàng nắm tay tôi khi phi cơ cất cánh. Bỗng chàng siết chặt tay tôi trong lúc phi cơ chao động rướng mình phóng vào bầu trời Cali. Tôi tưởng chàng lo âu tai nạn nhưng tôi lầm khi nghe chàng nói vào tai:

“Em nhớ hôm mình đi coi bông lục bình ở Cẩm Giang  không? Anh có cảm tưởng buổi hội ngộ liên trường vừa qua của tỉnh mình giống như cái cảnh những về lục bình tụ lại với nhau. Thầy trò ai nấy đều vui mừng, lòng mở hội như bông lục bình nở rộ. Nếu mình không được như lục bình tụ tập hàng năm ở Cẩm Giang, thì ít nhứt đôi ba năm gặp nhau một lần cho vui. Anh định về trển, anh gọi điện thoại bàn với anh Quí, chị Thao, anh Sáng liền. Em thấy sao?”

Tôi nhìn gương mặt rạng rỡ của chàng rồi nghiên đầu dựa vào vai chàng. Tôi siết nhẹ tay chàng thay cho câu trả lời.



Nguyễn Thị Thu Hà

“Nàng dâu Tây Ninh”



(1)   Păng-xê: pensée, hoa “tương tư”

(2)   Polo - áo thun có cổ.

(3)   T-shirt - áo thun màu.

(4)   Internet

(5)   Google

(6)   Yahoo

(7) Home is where the heart is.

(8)Logo - nhãn hiệu
           (9)Poster - bích chương


Hân hạnh đón nhận những lời bình luận dễ thương của bạn. 

5 tháng 8, 2013

Đá cuội



Hân hạnh đón nhận những lời bình luận dễ thương của bạn.

4 tháng 8, 2013

1. Cơ duyên Mossard (Hồi ký của một cựu học sinh trường dòng)


Năm tôi lên mười tuổi, ba má tôi gởi tôi học trường nội trú Mossard, ở quận Thủ Đức, cách Sài gòn mười mấy cây số ngàn.

Có lẽ vì ba tôi là thầy giáo nên – theo sự suy nghĩ non nớt của tôi lúc đó - ông cho tôi đi học rất sớm. Mỗi ngày ông đi dạy học bằng xe mobylette, chở hai anh em tôi đi học luôn. Khi học xong lớp nhứt trường Tiểu học Tây ninh, tôi phải ở lại lớp vì mới có chín tuổi. Năm sau, tôi cũng chưa đủ tuổi để thi vào lớp đệ thất nhưng tôi rất cứng đầu, nhất định không chịu ở lại lớp nhứt thêm một năm nữa. Cô sáu của tôi thấy thương, khuyên ba tôi cho tôi chuyển qua chương trình Pháp.

Hai niên học trước, Tuấn, người anh thứ năm của tôi, không đậu concours (thi tuyển) vào Mossard nhưng đậu vào đệ thất trường Trung học Tây Ninh. Do đó tôi nghĩ anh tôi thi rớt không phải vì học dở mà vì anh không được kèm Pháp văn cho khá trước khi đi thi. Tôi may mắn hơn anh vì trước khi đi thi tôi được một người chị bà con tận tình dạy kèm tôi ngoại ngữ ấy. Đó là chị Paulette, con của cô sáu tôi, vừa du học ở Pháp thành tài về xứ.

Hôm tôi đi thi, anh Tôn, người anh thứ tư của tôi, cũng từng là dân Mossard, đưa tôi lên Thủ Đức bằng xe đò. Anh tư năm ấy học ở trường Taberd. Vì đông con và nhà ở xa nên ba má tôi chưa bao giờ dẫn tôi đến trường thăm anh tư khi anh ở nội trú. Hôm ấy là lần đầu tiên tôi đến Mossard. 


Đến chợ Thủ đức chúng tôi cuốc bộ đến trường thay vì đi xe lam. Vừa qua khỏi trường Quân nhạc bên tay phải, đường  dốc thoai thoải, không cao lắm. Đi qua khỏi nhà thờ Thủ Đức bên tay trái anh tư chỉ cho tôi thấy ngôi trường Mossard nằm kế bên, trên một mảnh đất mà theo ý tôi  là một ngọn đồi, ẩn mình trong đám cây cối cao nghều nghệu. Cổng trường trang nghiêm, cửa sắt, con đường vào trường lót đá xanh, từng cục lớn hơn viên gạch xây tường. Từ ngoài nhìn vào, trên cột tay phải cổng trường có bản cẩm thạch màu trắng đề tên “Ecole Mossard”. Bước vào trong, tôi thấy có hai dãy nhà lầu ba tầng, sơn màu vàng lợt. Vì còn sớm nên anh tư dẫn tôi vào préau (sân chơi có mái che) ngồi đợi. Một lát sau, tôi thấy có một ông cha đi bộ từ một ngôi nhà lầu đằng xa đến. Anh tôi vội vàng dắt tôi đến chào và giới thiệu tôi với ông cha này nhưng anh không gọi là cha mà là frère (sư huynh). Khi ấy tôi chỉ biết gật đầu chào một ông cha đầu sói, có một gương mặt phúc hậu trong chiếc áo dòng màu đen, vậy thôi. Ông cha đi rồi, anh tư mới nói cho tôi biết đó là một ông thầy dòng chớ không phải là ông cha. Ông thầy tên Sébastien, làm bề trên Đệ Tử viện ở ngôi nhà lầu đó.

Năm ấy, tôi may mắn thi đậu vào lớp 7è Spéciale (lớp 7 đặc biệt). Tôi không nhớ thầy nào canh lớp trong lúc chúng tôi thi écrit (thi viết) nhưng tâm trí tôi còn ghi rất rõ cảnh thi oral (thi hạch miệng). Ông thầy dòng hỏi tôi những câu bằng tiếng Pháp khó nghe làm tôi lúng túng. Thấy vậy, thầy cười thật hiền, biểu tôi hãy bình tỉnh, bằng tiếng Việt, giọng người miền Bắc. Nhờ nụ cười ấy mà tôi trả lời suôn sẻ các câu hỏi của thầy. Tháng sau vào nội trú tôi mới biết ông thầy dòng này là frère Jules, làm Préfet (giám học), một thầy hét ra lửa với bọn học sinh chúng tôi. 

đàoanhdũng
www.lasanmossard.org

Xem tiếp
Hân hạnh đón nhận những lời bình luận dễ thương của bạn. 

3 tháng 8, 2013

31 tháng 7, 2013

Hỏi


Hân hạnh đón nhận những lời bình luận dễ thương của bạn.

10 tháng 7, 2013

Người bạn cũ



(Tạp chí Văn Hữu số 20, mùa Xuân 2013)
 Sau hơn ba mươi năm mới gặp lại, trên điện thoại, một người bạn dạy cùng trường ngày xưa, bà mừng như bắt được vàng. Ấy cũng là nhờ vào các cô học trò cũ của hai người liên lạc, tìm nhau qua mạng thông tin in-tẹt-nét gì đó.

Đồng tuổi hạc, đồng cảnh góa bụa, hai người bạn già hỏi thăm nhau, nói chuyện huyên thuyên cả mấy tiếng đồng hồ. Bà hẹn sẽ gọi bạn vào cuối tuần bằng điện thoại di động, không tốn phút. Bạn căn dặn bà gọi sau chín giờ sáng thứ bảy vì hai người con của bạn đi làm suốt tuần, chúng cần nghỉ ngơi. Bà thầm mừng cho bạn, ở tuổi này mà còn có thể ở chung, hủ hỉ với con cháu, thiệt là có phước. Phần bà, bà cũng có con, có cháu, nhưng bà đang ở viện dưỡng lão.

 Sáng thứ bảy, bà cẩn thận chờ đến 10 giờ mới gọi bạn. Vừa nghe tiếng bắt điện thoại, bà nói như reo:

“Ngà đó hả, mình đây!”

Bà cảm thấy bỡ ngỡ khi nghe câu trả lời, thật lạnh lùng:

“Không phải! Chờ chút.”

Rồi bà nghe tiếng dép lẹp xẹp, tiếng gõ cửa phòng, tiếng nói vang lên trong điện thoại:

“Có điện thoại!”

Bà bàng hoàng, hụt hẫng, thương bạn, thương mình.

đàoanhdũng



Hân hạnh đón nhận những lời bình luận dễ thương của bạn.